Lớp kế toán trưởng uy tín tại Hà Nội

Trang chủ » Tin tức » Cập nhật luật thuế và kế toán » Nội dung pháp luật cần biết về thuế nhập khẩu

Nội dung pháp luật cần biết về thuế nhập khẩu

1. Những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu.

Quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu được hình thành giữa hai chủ thể là nhà nước-người thu thuế và cá nhân, tổ chức-người nộp thuế.

Quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu phát sinh dựa trên những căn cứ sau:

1.1.Văn bản quy phạm pháp luật quốc gia.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, quy phạm pháp luật quốc gia về thuế nhập khẩu được thể hiện tập trung trong một đạo luật riêng gọi là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hoặc quy định thành một chương riêng trong đạo luật Hải quan. Ở Việt Nam, các quy định về thuế nhập khẩu được thể hiện trong Luật xuất khẩu, thuế nhập khẩu đựơc Quốc hội thông qua năm 1991, sửa đổi bổ sung năm 1993 và năm 1998, đang áp dụng là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005.

Nhìn chung, tuy có sự khác nhau giữa các nước trong cách thiết kế quy phạm pháp luật quốc gia về thuế nhập khẩu nhưng thực chất các quy phạm này đều tìm cách quy định những vấn đề cơ bản sau:

– Xác định chủ thể nộp thuế nhập khẩu là ai.

– Xác định đối tượng nộp thuế nhập khẩu là những hàng hoá, dịch vụ nào.

– Xác định thuế suất thuế nhập khẩu và giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu.

– Xác định trình tự, thủ tục thu thuế nhập khẩu.

– Xác định các trường hợp miễn giảm, hoàn thuế.

– Xác định các hành vi vi phạm và chế tài đối với từng hành vi đó.

 

1.2.Văn bản quy phạm pháp luật quốc tế.

Để xúc tiến và thực hiện các hoạt động thương mại với bên ngoài thì mỗi quốc gia phải chấp nhận ràng buộc với “luật chơi”chung trong thương mại quốc tế, trong đó có vấn đề cắt giảm thuế quan và giảm thiểu các rào cản phi thuế đối với hoạt động thương mại.

Các quy phạm pháp luật quốc tế thể hiện ngay trong các điều ước quốc tế quan trọng như: Hiệp định GATT, Hiệp định CEPT hay Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, cũng như các Hiệp định Thương mại khác đã được ký kết giữa Việt Nam với các nước. Trong khi các quy phạm pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ thuế nhập khẩu giữa nhà nước với người nộp thuế, thì quy phạm pháp luật quốc tế lại điều chỉnh quan hệ thuế nhập khẩu giữa các quốc gia với nhau, trong việc phân định quyền đánh thuế hoặc quan hệ giữa quốc gia này với các cá nhân, tổ chức mang quốc tịch nước khác trong việc thực hiện quyền đánh thuế và nghĩa vụ nộp thuế.

Các quy phạm pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu thường quy định những vấn đề cơ bản sau:

– Xác định những nguyên tắc điều chỉnh việc áp dụng thuế nhập khẩu như: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT), nguyên tắc chống bán phá giá, nguyên tắc tính thuế theo trị giá hải quan…

– Xác định danh mục các loại hàng hoá chịu thuế nhập khẩu (dòng thuế) thuộc diện cắt giảm thuế ngay, cắt giảm bình thường, loại trừ hoàn toàn và loại trừ tạm thời.

– Xác định những nguyên tắc chọn luật áp dụng, chẳng hạn như nguyên tắc luật nơi xảy ra sự kiện pháp lý, luật nơi đương sự mang quốc tịch…

 

 

1.3. Các sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu.

Việc xác định hành vi nào là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu là hết sức quan trọng và có ý nghĩa trong thực tiễn.

 

 

Thực tiễn cho thấy, loại sự kiện pháp lý phổ biến làm phát sinh quan hệ thuế nhập khẩu là hành vi pháp lý. Những hành vi pháp lý này được thực hiện bởi chủ thể pháp luật là tổ chức, cá nhân nộp thuế và cơ quan thu thuế. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi pháp lý đều có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu. Để nhận diện hành vi nào mới là hành vi làm phát sinh quan hệ thuế nhập khẩu, phải dựa vào các tiêu chí sau:

Chủ thể thực hiện hành vi đó là người nộp thuế hoặc cơ quan thu thuế. Ví dụ: Hành vi nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế nhập khẩu của cá nhân, tổ chức làm phát sinh quan hệ kê khai, tính thuế giữa người nộp thuế với cơ quan thu thuế; hành vi thụ lý hồ sơ xin hoàn thuế hoặc hồ sơ miễn giảm thuế làm phát sinh quan hệ hoàn thuế, miễn giảm thuế…

Hành vi pháp lý phải được dự liệu rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật về thuế nhập khẩu và phải được minh chứng bằng các chứng cứ cụ thể. Ví dụ: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhập khẩu hàng hoá qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam được xem là hành vi pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu. Nhưng theo Luật Hải quan của Indonesia thì việc đưa hàng hoá vào lãnh thổ hải quan được coi như hàng nhập khẩu và phải chịu thuế nhập khẩu.

ghi hóa đơn hàng hóa thanh toán san phẩm

 

2. Những căn cứ xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu.

2.1. Giá tính thuế.

Trước đây, theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1991, giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu nhập, bao gồm cả chi phí vận tải và bảo hiểm theo hợp đồng.

Nếu hàng nhập theo phương thức khác hoặc giá ghi trên hợp đồng quá thấp theo với giá thực tế thì giá tính thuế áp dụng theo biểu giá do chính phủ quy định. Điều đó có nghĩa là hàng hoá nhập khẩu sẽ được xác định giá tính thuế trên cơ sở so sánh với giá tối thiểu.

Giá tính thuế sẽ luôn cao hơn hoặc bằng mức giá tối thiểu đã quy định. Trong trường hợp hàng không có giá tối thiểu thì họ sẽ so sánh giá nhập khẩu với giá kiểm tra do cơ quan hải quan xây dựng.

Như vậy, nếu doanh nghiệp nhập khẩu hàng với giá cao hơn giá tối thiểu thì họ sẽ tìm cách khai báo thấp hơn hoặc bằng giá tối thỉểu để giảm bớt số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước.

Để đạt được mục đích cục bộ, doanh nghiệp thường dàn xếp để tạo những hợp đồng nhập khẩu có đầy đủ các điều khoản như quy định nhưng với giá nhập khẩu thấp hơn, thậm chí thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế mà họ phải trả.

Trong khi đó, với hệ thống pháp ớy hiện hành, cơ quan hải quan chưa có đủ thẩm quyền kiểm tra tính chính xác, trung thực của hợp đồng mua bán hàng hoá, do vậy, mặc dù đảm nhận vai trò là “tấm lưới ”sàng lọc và ngăn ngừa gian lận thương mại qua giá nhưng hệ thống bảng giá tối thiểu, bảng giá kiểm tra hiện hành vô hình chung, lại trở thành lá chắn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không trung thực gian lận, và ngược lại trở thành rào cản đối với những hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp trung thực. Rõ ràng, cơ chế quản lý theo giá tối thiểu đã bộc lộ những sơ hở và bất hợp lý, mà vẫn không thể giải quyết được tình trạng gian lận giá ngày càng phổ biến.

Khi áp dụng hiệp định trị giá hải quan (GATT), hàng nhập khẩu được xác định theo giá giao dịch thực tế mà doanh nghiệp ký kết với đối tác. Doanh nghiệp được phép tự xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá của mình, tự xác định số thuế phải nộp, thực hiện nộp thuế vào ngân sách nhà nước, sau đó khai báo với cơ quan hải quan để làm thủ tục giải phóng hàng. Đối với cơ quan hải quan, khi làm thủ tục nhập khẩu cho hàng hoá, cán bộ hải quan chỉ kiểm tra trị giá khai báo có thống nhất với chứng từ kèm theo không, và kiểm tra tính hợp pháp của các chứng từ theo quy định. Sau đó, nếu không có vướng mắc, trị giá khai báo sẽ được chấp nhận. Còn nếu cán bộ hải quan có nghi ngờ, họ sẽ yêu cầu doanh nghiệp xuất trình thêm các bằng chứng chứng minh cho các trị giá đã khai báo.

Như vậy, khi áp dụng xác định trị giá tính thuế theo hiệp định này, người nộp thuế có quyền tự chủ rất cao, đồng thời nâng cao ý thức, tự giác khai báo trị giá giao dịch hàng nhập khẩu của doanh nghiệp. Điều này tạo sự công bằng trong kinh doanh thương mại, khuyến khích thương mại phát triển.

2.2. Thuế suất thuế nhập khẩu.
Thuế suất đối với hàng nhập khẩu bao gồm: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt.

– Thuế suất ưu đãi: áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

– Thuế suất ưu đãi đặc biệt: áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác.

 

Điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt:

+ Phải là những mặt hàng được quy định cụ thể trong thoả thuận đó ký kết giữa Việt Nam với nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế và phải đáp ứng đủ các điều kiện đó ghi trong thoả thuận.

+ Phải là hàng hoá có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam tham gia thoả thuận ưu đãi về thuế.

– Thuế suất thông thường: Áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam. Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

Bài viết liên quan:

Leave a Comment